Liên Hệ Biểu Diễn

Điện Thoại. (+84) 94-771-2485

​Hòm Thư. [email protected]

Copyright © Nghệ Thuật Hồng Ân 2018

Aug 26, 2018

Welcome to the Forum!

0 comments

It’s good to have you here! Feel free to share anything - stories, ideas, pictures or whatever is on your mind. Here you can start discussions, connect with members, reply to comments, and more.

 

Have something to say? Leave a comment or share a post!

 

New Posts
  • Bốn con lân cùng múa gọi là Tứ Quý hưng long, gồm bốn đầu lân trắng, vàng, đỏ, đen (hoặc xanh), tượng trưng cho bốn mùa, bốn phương, bốn hiện tượng trong trời đất, diễn tả tự sung mãn, trường thọ, mạnh khỏe, và hạnh phúc….. Cũng nên biết rằng, không phải ai cũng được cử đầu lân, phải là người múa giỏi nhất trong đội. Nếu là múa tranh giải thì phải là người đấu giỏi nhất mới được quyền cử đầu lân, vì tính quyết liệt của trận đấu tranh giải và tính sôi nổi của những pha bứt phá, tranh giành từng bước trên các độ cao khác nhau. Có thể phối hợp múa Lân với Sư, múa Lân với Rồng hoặc cả ba với nhau. Nếu Sư tử hí cầu (sư tử đùa giỡn với quả cầu) là nghệ thuật múa cao độ thì Long Lân tương hội (Rồng – Lân gặp nhau) lại là một nghệ thuật độc đáo vừa nhuần nhuyễn, vừa mạnh mẽ, vừa mang ý nghĩa hạnh phúc giao hòa, vừa bao hàm sức sống mãnh liệt của sự đoàn kết, hợp quần. Múa lân, sư, rồng thì phải có Ông Ðịa, hiện thân của Ðức Di Lặc, một vị Phật luôn hòa ái, từ bi. Một truyền thuyết cho rằng Ðức Di Lặc đã hóa thân thành người, chế ngự được một quái vật từ dưới biển lên bờ luôn ăn sống, nuốt tươi gây kinh hoàng cho mọi người. Ðức Di Lặc hóa thân thành người, gọi là ông Ðịa, lấy linh chi thảo trên núi cho quái thú ăn, hàng phục nó, biến nó từ quái thú ăn thịt sống thành con thú ăn bắp cải, hoa quả. Từ đó, mỗi năm ông Ðịa lại dẫn nó xuống núi chúc Tết mọi người, cho thấy quái thú đã thành thú lành, cái ác trở thành cái thiện. Ông Ðịa và con Lân đi đến đâu giáng phúc tới đó nên nhà nào cũng hoan hỉ treo rau xanh, giấy đỏ đón chào. Sau này, người có tiền thường treo giải bằng tiền buộc trong một miếng vải đỏ, treo cùng bắp cải hoặc rau xanh. Lân phải trèo lên cao lấy bằng được “thức ăn” này. Tất nhiên, ông Ðịa không múa cùng Lân, chỉ đi cùng nó, phe phẩy chiếc quạt to, ru Lân ngủ hoặc đánh thức lân dậy. Cảnh ông Ðịa vuốt ve lân và lân mơn trớn ông Ðịa thể hiện sự giao hòa giữa con người với tự nhiên trong một bầu không khí thanh bình, hoan lạc. Múa Lân – Sư – Rồng không thể thiếu tiếng trống, tiếng thanh la, chập chõa, toàn cảnh mới trở nên sinh động. “Tùng cheng, cắc cắc, tùng cheng…” –  âm điệu giao hòa của trống, thanh la, chập chõa. Trống đánh trong các cuộc múa Lân-Sư-Rồng gọi là Thất Tinh Cổ (trống bảy sao). Người đánh trống phải là người trưởng phái, hoặc phụ tá thứ nhất của trưởng phái. Trống đánh phải có bài bản, phù hợp với các bộ pháp như chào, lạy, nằm, leo lên, tuột xuống, lúc khoan lúc nhặt, lúc dồn dập liên hồi như trống trận, mới diễn tả hết hùng khí của lân (oai phong của sư và oanh liệt của rồng). Ở đâu vang lên tiếng trống Thất Tinh, ở đó có bầu không khí rộn ràng của cuộc múa Lân-Sư-Rồng. Ở đâu có múa Lân-Sư-Rồng, ở đó có cả một trời xuân. Ðể tăng thêm phần khí thế, phải có những màn biểu diễn võ thuật. Các võ sinh phải được học các môn côn, quyền, đao, kiếm, mã tấu, đoản thương, trường thương… đây là những võ sinh của lò võ của Ðoàn hay Ðội Lân-Sư-Rồng, được học “thập bát ban võ nghệ” cổ truyền, phần lớn là võ thuật Trung Hoa. Có thể nói múa Lân (hay múa Lân – Sư – Rồng) vẫn luôn là một kí ức tốt đẹp bậc nhất của Văn hóa truyền thống trong lễ hội ở Việt nam nói riêng, và của người Á Đông nói chung. Vì lẽ đó, nên chăng mỗi một người hãy tự tìm hiểu thêm về nó. Nếu có cơ hội hãy để bản thân được một lần trải nghiệm tiếng trống rộn ràng của Thất Tinh Cổ, được một lần thật sự sống trong bầu không khí của một lễ hội truyền thống dân gian để quên đi hết thảy những lo toan của cuộc đời này. Đọc Phần 1 ->
  • Có lẽ ngày nay trẻ em đợi chờ ngày tết chỉ vì được tiền mừng tuổi, được nghỉ học, được đi chơi, ít có nơi nào trẻ em đợi chờ ngày tết vì một tiếng trống báo hiệu biểu diễn Múa Lân – Sư – Rồng. Chỉ cách ngày nay vài ba thập kỉ, mỗi dịp tết đến xuân về, hay Nguyên tiêu tụ hội, hoặc tết Trung thu thì điều người ta mong đợi chính là phần hội náo nhiệt cả miền quê. Bởi vì phần hội đó không bao giờ vắng bóng màn biểu diễn múa Lân -Sư – Rồng. Múa Lân – Sư – Rồng là một môn nghệ thuật dân gian có nguồn gốc từ Trung Hoa. Theo dấu chân của những người Hoa lập nghiệp đến vùng đất mới trong đó có Việt Nam. Với người Châu á, múa Lân – Sư – Rồng là một loại hình nghệ thuật dân gian đường phố sớm nhất, cũng phát triển nhất. Ba con vật: Lân – Sư – Rồng mang ý nghĩa an lành, hạnh phúc, thịnh vượng đã thực sự chiếm trọn cảm tình của nhân dân trong tất cả những mùa hội lễ. Loại hình múa này vừa thể hiện nét đẹp của nghệ thuật dân gian vừa thể hiện tính mỹ thuật cùng đặc trưng văn hóa vùng. Tùy theo không gian rộng – hẹp, tính chất của từng lễ hội, múa Lân – Sư – Rồng sẽ có những bài bản khác nhau. Đôi khi ba loại hình múa được thể hiện riêng rẽ, đôi khi cũng có sự phối hợp với nhau tạo thành bộ ba hoàn hảo, thu hút sự quan tâm đặc biệt của người xem bởi điệu bộ, cử chỉ, sự uy dũng, cái thần riêng của từng nhóm múa. Tuy nhiên trong hầu hết các lễ hội, người ta chủ yếu sử dụng riêng hình thức múa Lân. Bởi lẽ chỉ riêng múa Lân thôi cũng đã đủ để thể hiện hầu hết các ý nghĩa của bất kì lễ hội nào. Vì vậy trong bài viết này, chúng tôi đặc biệt giới thiệu về nghệ thuật múa Lân đến với bạn đọc. Tuy vậy cũng không thể hoàn toàn tách múa Lân khỏi Sư, Rồng một cách tuyệt đối. Múa Sư – Rồng luôn xuất hiện bên cạnh múa Lân như là một cách để đề cao lẫn nhau, đồng thời còn giúp cho múa Lân thực sự bộc lộ được hết thảy tinh hoa của nó. Lân có hai loại: loại có sừng và không sừng. Lân không sừng giống hổ, là biểu tượng của tháng giêng. Ðầu lân không sừng dùng để múa, thường dính vào sau gáy một miếng vải đỏ , viết chữ Vương lớn, đậm nét, mình lân có vòng đen. Lân có sừng chỉ có một sừng chính giữa nên còn gọi: Kỳ Lân, đầu tròn lớn, màu thân giống màu đầu lân, được sử dụng để múa nhiều nhất. Múa lân hoặc Sư chỉ cần hai người, nhưng múa Rồng thì phải có nhiều người tập rất công phu để thể hiện được các động tác đồng bộ khi rồng uốn khúc, rồng phóng tới, rồng đảo lại. Ít nhất cũng có 6 người múa rồng, nhiều cũng độ 20 chục người, thậm chí 30 chục người, cùng điều khiển con rồng phô diễn thần oai. Dù có cách tân, cách điệu, Sư và Rồng vẫn không có màu sắc phong phú bằng lân. Lân mang nhiều sắc mặt: Trắng, vàng, đỏ, xanh, đen. Ba đầu lân được ưa chuộng nhất là trắng, đỏ, đen. Ba đầu lân thường múa chung với nhau, tượng trưng cho “Ðào viên kết nghĩa” (Kết nghĩa vườn đào của Lưu Bị, Quan Vân Trường và Trương Phi). Một con lân biểu diễn gọi là “Ðộc Chiếm Ngao Ðầu”, thể hiện tài tả xung hữu đột, tiến thoái nhịp nhàng, bộ pháp hùng dũng, nhảy cao, trèo giỏi, tượng trưng cho cái uy, cái dũng của một mãnh tướng, một hảo hán, một vị anh hùng. Hai con lân cùng biểu diễn gọi là Song Hỉ, thể hiện sự tâm đầu ý hợp như loan với phụng, như vợ với chồng, như đất trời và âm dương tương hợp. Ba con lân hợp múa phải có ba màu vàng, đỏ, đen, gọi là Tam Tinh, thể hiện những điều cầu nguyện của mọi người đạt được điều lành, ba điều tốt: Phúc, Lộc, Thọ . Ba con lân cùng múa còn diễn tả “Tam Anh” (Lưu Bị, Quan Vũ và Trương Phi) vừa hùng dũng, vừa có chí lớn, vừa thương yêu, gắn bó với nhau hơn cả anh em ruột thịt, cho đến chết. Bốn con lân cùng múa gọi là Tứ Quý hưng long, gồm bốn đầu lân trắng, vàng, đỏ, đen (hoặc xanh), tượng trưng cho bốn mùa, bốn phương, bốn hiện tượng trong trời đất, diễn tả tự sung mãn, trường thọ, mạnh khỏe, và hạnh phúc. Còn tiếp …. ( Phần 2 )
  • Múa truyền thống, hay còn gọi là Nghệ thuật múa cổ điển (trong bài viết ngắn này chúng tôi chỉ giới hạn việc tìm hiểu về múa cổ điển Trung hoa và sự ảnh hưởng của nó đến một số quốc gia khác như: Đài Loan, Việt nam, Hàn Quốc, Nhật) được phân chia thành 2 loại: Múa cung đình dành cho tầng lớp quí tộc, vua quan trong các triều đình. Và Múa dân gian hay còn gọi là Nghệ thuật Múa Sân đình (sân khấu biểu diễn chủ yếu là các Sân đình ở mỗi làng trong dân gian) dành riêng cho đại bộ phận quần chúng người lao động. Múa cung đình có bộ phận phụ trách và tổ chức tập luyện chính thuộc về Bộ lễ (phần Lễ nhạc). Mục đích là mua vui cho các tầng lóp quí tộc, vì vậy nội dung của nó chủ yếu là ca ngợi: Ca ngợi nền thái bình thịnh trị, ca ngợi ân đức của các bậc hiền tài, ca ngợi sự an hòa của đất trời vạn đại. Múa cung đình được biểu diễn chủ yếu trong các dịp mừng thọ, mừng ngày lập nước, mừng công, mừng hôn (của các Hoàng tử và Công chúa). Khác với múa cung đình, múa dân gian được sáng lập chủ yếu từ những người từng phục vụ cho múa cung đình, số ít được sáng tạo bởi những bậc tài tử giữa nhân gian. Vì thế nội dung của múa dân gian cũng không có sự khác biệt nhiều so với múa cung đình. Tuy nhiên, kĩ xảo, nội dung đều có phần sơ giản hơn múa cung đình nhằm phù hợp với đối tượng thưởng thức là người lao động. Múa dân gian thường được biểu diễn vào các ngày lễ hội của mỗi Đình làng. Cho dù là múa cung đình hay múa dân gian thì nội dung một vũ điệu cũng được xây dựng là một câu chuyện kể về một con người có đạo đức, một vị thần linh, hay chí ít cũng kể về một vẻ đẹp thuần khiết nào đó của tiên nữ, của đóa hoa, của trời đất, của thánh nhân,…. Tựu chung lại, nội dung một vũ điệu luôn toát lên khí tiết thanh tao, thuần tịnh. Đó không phải là cái đẹp được phô ra lộ liễu mà là cái đẹp khởi từ nội tâm của người vũ công lúc hòa mình vào nhân vật, làm nổi bật sự thánh khiết, hài hòa của nhân vật mà người diễn viên đã hòa mình vào đó. Ví dụ một số điệu múa như: Vũ điệu Hoa Mộc Lan là câu chuyện kể về một nhân vật nữ anh hùng thời Bắc ngụy. Vì thế, người diễn viên phải lột tả được câu chuyện qua mỗi từng động tác: Oai hùng lúc trong trận, Đoan chính, nhu mì lúc ở nhà,… Quan trọng hơn, phải cho người xem thấy được Phẩm hạnh của Hoa Mộc Lan qua từng động tác. Hoặc Vũ điệu “Nhạc Phi” thì thông qua động tác, người diễn viên cần làm cho người thưởng thức thấy rõ lòng tận trung của ông đối với triều đại của mình. Hay “Vũ Phiến” (Múa Quạt), nữ vũ công phải thể hiện được sự mền mại, uyển chuyển, nhu mì của người phụ nữ trong khi nam diễn viên phải phô ra được đạo đức của người quân tử. Như thế, mỗi vũ điệu đã không còn đơn thuần là vẻ đẹp của những động tác hình thể. Ở đó, trong từng động tác đều là diễn tả cái khí chất của con người, miêu tả từng vẻ đẹp trong sáng nhất, thanh tao nhất, thuần tịnh nhất. Để làm được điều đó, người diễn viên cũng không chỉ đơn thuần là tập từng động tác mà có thể biểu hiện hết thảy những gì được chuyển tải trong nội dung vũ điệu. Người vũ công phải đề cao đạo đức, phẩm hạnh của bản thân, lấy đó làm cơ sở để cảm thụ về nhân vật mà bản thân làm tải thể. Chính bởi vì như thế, chúng tôi nói rằng: Múa truyền thống là một hình thức tu dưỡng đạo đức, chỉ có tu dưỡng đạo đức mới có thể làm nên một Vũ điệu say lòng người thưởng thức.